Chùa Bia Bà | Cụm Di Tích – Đình – Chùa – Bia Bà La Khê

Chùa Bia Bà

Chùa Bia Bà (thường được gọi là đình La Khê) nằm trong quần thể Di tích văn hóa La Khê, Hà Đông, Hà Nội là một địa chỉ tâm linh mà nhiều người hướng về trong những ngày đầu tháng, đầu năm mới để thắp hương cầu tài, cầu lộc.
“Cầu duyên thì đến chùa Hà,

Cầu tài, cầu lộc thì đi Bia Bà”

Lược Sử Chùa Bia Bà 

Tương truyền đình làng La Khê được xây dựng từ đầu thế kỷ 17 và đại trùng tu vào TK 18. Trong đình có thờ Nhị vị thành hoàng là Hắc Diện đại vương và Thiên Tiên Bảo Hoa công chúa, hai vị thần đã giúp dân trừ ác và đào ngòi nối sông Nhuệ với sông Đáy để vùng đất này trở nên trù phú. Con ngòi đó sau được đặt tên chữ là Phúc Khê (suối Phúc) và ngôi chùa bên bờ kia cũng cùng tên, dân quen gọi là chùa Ngòi.

Trong đình còn thờ Bia Bà (sẽ nói kỹ dưới đây) và Bia Thánh sư là hai di vật lịch sử văn hóa quý giá. Bia Thánh sư ghi công tích 10 người Trung Hoa đời Minh mang các họ Lý, Trang, Trần đã sang dạy dân làng làm nghề dệt the lụa. Đến thời nhà Nguyễn lại sắc phong thêm cho các vị là “Dực Bảo Tôn Thần”.

Bia Bà ghi sự tích một hoàng phi của Mạc Thái Tông (1530-1540). Bà tên thật là Trần Thị Hiền, sinh vào mùa xuân năm 1511 tại làng La Ninh [1] trong một gia đình nhiều đời có người làm quan trong triều Lê sơ.

Thân phụ Bà là Đô lực sĩ Thiết sơn bá Trần Chân [2]. Năm 1527 đời Mạc Thái Tổ, Bà mới 16 tuổi đã được chọn làm phi cho thái tử Mạc Đăng Doanh. Năm 1530, thái tử nối ngôi, Bà vào ở Đệ nhị cung.

Năm 1532 Bà sinh được hoàng tử (thứ 5 trong triều) nhưng sau đó bị bệnh hậu sản. Năm 1538 Bà về quê nhà nghỉ dưỡng, tuy có các Ngự y chạy chữa tận tình song vẫn không khỏi và qua đời mùa đông năm ấy ở tuổi 28. Vua vô cùng thương tiếc, cho an táng trọng thể tại cánh đồng Đa Bang.

Năm 1539 Tả Thị lang Bộ Lễ Nguyễn Tiến Thanh và Hiệu lý Viện Hàn lâm Bùi Hoằng đã đồng soạn văn bia cho lăng mộ Bà.

Bia Bà trải gần bốn thế kỷ đứng ở ngoài đồng, đến mùa xuân 1913 mới đổ do đất lún. Một người không rõ tên tuổi đã sao chép văn bia, đưa vào cuốn Thần phả của làng. Ít lâu sau bia được dựng như cũ. Đến thập kỷ 1980, bia lại đổ rồi đưa về sân đình. Theo nguyện vọng của nhân dân, Ban quản lý di tích làng La Khê đã hưng công dựng một ngôi đền thờ Bà ở ngay bên phải sân đình và đặt bia vào trong.

Phần đầu văn bia viết về tiểu sử của Đệ nhị cung Trần Thị Hiền, có đoạn: “Làng La Ninh, huyện Từ Liêm là quê hương của Bà phi. Ông nội của bà húy là Thiện, được phong là Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bảo; bà nội họ Nguyễn huý là Trù, được phong là Liệt phu nhân. Thân phụ của bà họ Trần, húy là Chân, do có công lao được phong là Thiết Sơn bá, rồi Dũng Quận công; thân mẫu họ Trần, húy là Tú, được phong là Huy nhân”. ”.

Cũng như các vị vua khác, chắc chắn Mạc Thái Tông có đủ “tam cung lục viện”, nhưng với những gì ông thể hiện với bà Trần Thị Hiền cho thấy, Nhà vua đã giành tình cảm lớn và sâu đậm cho người vợ đầu tiên của mình.

Nội dung tiếp theo của Bia Bà ca ngợi công đức và thể hiện sự tiếc thương của Nhà vua đối với Đệ nhị Cung phi Trần Thị Hiền với lời lẽ bi ai thống thiết: “Ôi ! Đức tính điềm tĩnh thận trọng thư thái nhàn nhã của bà phi đã giúp bà cần kiệm thu xếp ổn thỏa mọi việc trong nhà cho dù những người được tán thán trong Kinh Thi, Kinh Dịch cũng không hơn thế được.

Đáng lẽ Bà phải được hưởng phúc khánh nhiều vô cùng, song không hiểu sao sớm đã quy tiên, thật đáng thương thay. Bà phi có nhiều đức hạnh cao đẹp như vậy, sao chẳng đem khắc vào bia đá để lưu truyền bất hủ ư?

Chùa Bia Bà

 

Ngôi đền chùa cầu tài lộc: Tích xưa chuyện cũ

Đền Đức Thánh Bà (đền Bia Bà) nằm trọn trong khuôn viên đình La Khê, bên cạnh là chùa Diên Khánh. Đình La Khê được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XVII.

Đình thờ Hắc Diện Đại Vương và Thiên Tiên Bảo Hoa công chúa, tục thường gọi là nhị đại vương. Đây là hai vị Thành hoàng làng đã giúp dân trừ ác ma rồi dạy dân trồng lúa, nuôi tằm, dệt vải từ đó dân làng La Khê trở nên giàu có.

Đền Đức Thánh Bà thờ bà Trần Thị Hiền (1511 – 1538) là đệ nhị cung phi của vua Mạc Đăng Doanh, sau khi bà mất được phong làm Đông cung Hoàng hậu.

Bà là con gái ông Trần Chân (sau được phong Dũng Quận công), quê tại thôn La Ninh, huyện Từ Liêm nay là làng La Khê, Hà Đông. Bà vốn có tư chất thông minh, tháo vát lại thùy mị, nết na, xinh gái và đặc biệt rất chăm chỉ, năm bà 16 tuổi thì vào cung làm phi của vua Mạc Đăng Doanh.

Năm 1538, bà qua đời khi mới 28 tuổi do bị hậu sản lúc sinh vị Hoàng tử đầu lòng và là vị Hoàng tử thứ 5 trong triều, bà xin về quê an dưỡng sau đó mất tại quê nhà.

Triều đình vô cùng thương xót nên đã mang nhiều lễ vật về điếu viếng trọng thể, sau đó an táng bà tại cánh đồng Đa Bang thuộc làng La Khê và dựng một tấm bia đá để ghi lại cuộc đời và công đức của bà.

Trước khi Bia Bà được đưa vào đình, thì đã có 2 lần bị đổ ngoài cánh đồng. Lần đầu vào năm 1913, lần thứ hai vào năm 1980. Tấm bia tuy để ngoài sương nắng nhưng chữ trên bia vẫn có thể đọc được, trên bia ghi rõ các thông tin về Thánh Bà Trần Thị Hiền.

Hiện nay, tấm bia được coi như bảo vật thiêng tại đình La Khê, du khách trước khi đọc và xem bia đều dâng hương vái tạ trước.

Ngoài ra, trong đình còn có tấm bia Thánh sư thờ 10 người Trung Quốc đã đến La Khê vào khoảng thế kỷ XV và đã dạy dân làng nghề dệt the lụa. Đó là các ông Lý Công, Trang Công, Trần Công…. Đến thời nhà Nguyễn, 10 vị được sắc phong Dực Bảo Thôn Thần, hai tấm bia chính là hai di tích lịch sử và tư liệu ngàn đời quý giá.

Cầu tài lộc thì cứ đến Bia Bà

Dân gian xưa có câu:

Cầu duyên thì đến chùa Hà

Cầu tài, cầu lộc thì đi Bia Bà

Hai câu ca dao trên đủ đến khẳng định rằng tại sao người buôn bán lại thường xuyên đến cầu tài lộc tại Bia Bà. Có nhiều sự tích về sự hiển linh của Thánh Bà trong lịch sử, trong đó không ít lần liên quan đến việc tài lộc, giàu sang, phú quý.

Theo một cụ cao niên trong làng kể câu chuyện truyền miệng, vào một đêm nọ, có một anh lính bị lạc mất doanh trại, khi đi ngang qua cánh đồng Vang, chàng lính bỗng gặp một bà cụ, bà bảo chàng rằng, nếu con đi tiếp thì sẽ gặp quân cướp, vì vậy con hãy ngủ trong nhà mẹ một đêm, sáng mai nhớ phải đi về phía đông.

Ngôi nhà mà bà cụ bảo chàng lính ngủ lại là một ngôi nhà lợp gianh, sáng hôm sau tỉnh giấc chàng lính giật mình khi nằm trên bệ gạch mà không thấy nhà đâu. Chàng lính nhớ lời bà cụ dặn hôm qua bèn đi về phía đông thì tìm lại được doanh trại của mình, về sau dân làng tin rằng đó là Thánh Bà đã hiển linh và giúp đỡ chàng lính.

Rồi lại có chuyện kể rằng, dân làng La Khê thấy một cụ già tóc bạc trắng, tay cắp nón đi ăn xin. Vào một hôm, một người đàn bà đi làm ngang qua khu dựng Bia Bà ở cánh đồng, thấy cụ già nằm co ro vì đói, người đàn bà này tính tình thương người, bèn nhường lại suất cơm mang ra đồng của mình cho cụ ăn.

Vừa lúc đó có một cơn lốc mạnh kéo đến, chỉ trong tích tắc cụ già biến mất cùng nón và suất cơm. Về sau, người đàn bà đó làm ăn phát đạt, giàu có nhất vùng, dân làng tin rằng chính Thánh Bà hiển linh thử lòng người, thấy người chăm chỉ, hiền lành, bác ái Thánh Bà phù hộ cho giàu có, vinh hoa.

Vì những thần tích trên mà du khách đến lễ thường xin tài lộc là nhiều nhất. Ngoài ra, khu di tích đình – chùa – Bia Bà có khuôn viên rộng, cảnh quan đẹp, có hồ nước sân đình thênh thang, không khí trong lành, yên tịnh, không chỉ là nơi linh thiêng tôn giáo tín ngưỡng mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, gắn kết tình nghĩa giữa nhân dân trong ngoài phường La Khê.

Đền Đức Thánh Bà có tiền đường được dựng 5 gian, xây kiểu 2 tầng 8 mái, phía trước là không gian mở, thoáng và hòa chung vào kiến trúc của cả khu đình.

Trung cung và hậu cung được kết nối với tiền đường theo hình chữ Tam. Qua một khoảng sân, hai phía tả vu hữu vu đền Đức Thánh Bà là những công trình phục vụ du khách hàng hương, chuẩn bị đồ lễ bái.

Khu di tích Bia Bà còn gắn với truyền thống lịch sử của ngành Tòa án nước ta khi vào năm 1946, nơi đây diễn ra phiên tòa đầu tiên của nước Việt Nam độc lập xét xử những tên phản cách mạng.

Năm 2013, Tòa án nhân dân tối cao quyết định xây dựng “Bia ghi dấu sự kiện địa điểm xét xử đầu tiên của Tòa án nhân dân tại Bắc Bộ” tại đình Bia Bà và được khánh thành vào ngày 20/4/2014.

Hiện nay, các sinh viên theo học ngành Luật vẫn thường xuyên đến đây để học về lịch sử của ngành như một mốc son chói lọi, niềm tự hào của dân tộc.

Năm 1998, khu di tích đình – chùa – Bia Bà đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Kiến trúc

Trải qua nhiều thế kỷ đầy chiến tranh và biến động xã hội, ngôi đình La Khê không còn nguyên vẹn. Hình thức thiết trí xưa kia khá đơn giản, thiên về bào trơn đóng bén đấu vuông, không có nhiều hoa văn.

Các bức tường, cột hiên được xây bằng gạch Bát Tràng miết mạch to, đầu hồi bít đốc. Đó là kiểu kiến trúc chủ yếu sử dụng gạch và vôi vữa, thường gặp ở thời Nguyễn.

Đình La Khê, chùa Diên Khánh và chùa Phúc Khê nằm trong một quần thể di tích lịch sử văn hóa được công nhận Di tích lịch sử văn hóa quốc gia vào năm 1989. Năm 1997 dân làng La Khê khởi công trùng tu tòa đại bái 7 gian, năm 2002 lại tiếp tục sửa sang hai tòa trung cung và hậu cung.

Tòa đại bái và trung cung xây theo hình chữ “Nhị”, toà hậu cung có kết cấu hình chữ “Đinh”. Tất cả nội thất đều được trang hoàng rực rỡ.

Khuôn viên của đình La Khê ngày nay rộng khoảng 8000m2, các sân đều lát gạch đỏ. Nếu thay các lều quán bằng vườn cây xanh thì rất đẹp. Ngôi đình nhìn thẳng qua dải sân về một nguyệt hồ ở hướng nam với hàng lan can đá bao quanh và các tượng linh thú soi bóng trên mặt nước.

Du khách từ ngoài đường làng bước vào cổng nghi môn rồi đi theo con ngõ rộng ven hồ này qua một phương đình sẽ đến sân dài, bên phải là chùa Diên Khánh, trước mặt là tam quan nội và nhà đại bái của đình.

Bên trái là đền Bia Bà. Riêng tiền đường 5 gian được xây kiểu hai tầng tám mái, phía trước cũng để mở rất thoáng như kiến trúc chung của hầu hết khu đình. Trung cung và hậu cung kết nối với tiền đường theo hình chữ “Tam”.

Cách một khoảng sân ở cả hai phía bên trái và bên phải đền Bia Bà còn có những công trình khác nhằm phục vụ khách du lịch và tín đồ tới viếng thăm.

Hiện vật

Hiện tại, đình La Khê lưu giữ được khá nhiều di vật có giá trị nghệ thuật cao như án giang, hương án, kiều, hoành phi, câu đối v.v.. Trong tòa trung cung có hai cỗ long ngai, bài vị của Đức Ông và Đức Bà đại vương thành hoàng được tạo tác công phu, tỉ mỉ.

Ngoài hai tấm Bia Bà và Bia Thánh sư, còn có 28 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam cũng là những chứng tích lịch sử quý hiếm.

Vốn là địa điểm du lịch văn hóa và lịch sử lâu đời, từ khi cạnh đình có dựng Bia Bà thì nơi đây càng nổi tiếng vì được coi là một đền thờ rất linh thiêng. Hằng ngày có nhiều khách thập phương đến dâng lễ cầu lộc, đặc biệt vào các dịp Tết và Hội làng La Khê, được tổ chức từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch. Để bảo vệ di vật khỏi sự sờ mó của các tín đồ, hiện nay Bia Bà được che bằng các tấm kính dày.

Đài kỷ niệm một sự kiện lịch sử khác với gần 70 năm tuổi là “Bia ghi dấu địa điểm xét xử đầu tiên của Tòa án nhân dân tại Bắc Bộ” đã được khởi công xây dựng ngày 05-8-2013 ngay trong sân nhỏ bên phải đền Bia Bà. Mới đây vào ngày 20-4-2014, chính quyền trung ương và địa phương đã làm lễ khánh thành Đài kỷ niệm này.

Vào những ngày đầu năm mới hay mùng Một – ngày Rằm hàng tháng luôn tấp nập người đi lễ. Từ cổng vào có gần chục chiếc lán gắn biển “viết sớ thuê” và có những người phụ nữ già làm nghề khấn thuê.

Trong những ngày đầu năm mới, khách thập phương đến đây chiêm bái rất đông. Mâm lễ dâng lên được soạn tùy tâm từng người nhưng chủ yếu là các lễ chay như hương, hoa tươi, bánh, quả chín, trầu cau và một ít tiền lẻ.

Họ cầu xin Thánh Bà sức khỏe, bình an, may mắn, cầu tài cầu lộc, thăng quan tiến chức, thi cử đỗ đạt, mua nhà rồi lại bán được nhà, trúng hợp đồng làm ăn… và chủ yếu cầu xin trong việc làm ăn. Ai gieo được một đồng xấp đồng ngửa đều rất phấn khởi.

Nhiều người ta tin rằng, những lời nguyện cầu ở đền Bia Bà thật sự linh ứng. Theo người dân La Khê, Thánh Bà khi xưa là người chỉn chu, lo lắng, quản lý mọi việc trong cung để Nhà vua yên tâm chinh chiến khắp nơi. Xuất phát từ đây, trong dân gian đã nảy sinh tín ngưỡng cầu lộc Thánh Bà, mong được thuận lợi trong việc làm ăn buôn bán. Hàng năm, nhiều chủ doanh nghiệp, cửa hàng buôn bán làm ăn phát đạt đã quay lại đình phát tâm công đức báo đáp.

Thực – hư về sự linh ứng của lời cầu nguyện tại đình Bia Bà song lời đồn cứ duy trì theo thời gian khiến cho Bia Bà trở nên linh thiêng, được giới làm ăn tìm đến nhiều hơn. Từ khi Bia Bà được đưa về sân đình La Khê, lượng người đến lễ cầu lộc ngày càng đông. Vào các dịp Rằm tháng Bảy, trước Tết Nguyên đán và nhất là sau Tết, mọi người đến lễ và chiêm bái đình Bia Bà rất đông với mong muốn có một năm mới “vạn sự như ý”.

Đến với La Khê, du khách không chỉ được chiêm bái những di tích lịch sử – văn hóa của địa phương mà còn có những trải nghiệm thú vị trong cuộc hành hương về quá khứ. Sự thâm nghiêm cổ kính của đình Bia Bà và sự linh ứng của lời nguyện cầu phát tài phát lộc đã thu hút nhiều người đến đây. Năm 1998, đình Bia Bà – La Khê đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật.

Xưa kia La Ninh thuộc huyện Từ Liêm, trấn Sơn Tây. Sau tránh tên huý của vua Lê Duy Ninh nên đổi là thôn La Khê. Nay là phường La Khê, quận Hà Đông, TP Hà Nội.

Trần Chân từng giúp cha nuôi là Quận công Trịnh Duy Sản cùng đại thần Nguyễn Hoàng Dụ lật đổ “vua lợn” Lê Tương Dực. Năm 1516 hai cha con Trần Chân, Trần Lực bị giết hại do những lời sàm tấu, thi thể an táng gần làng ở Phúc Khê Tự tức chùa Ngòi.

Mấy năm sau lại được minh oan, truy phong tước Dũng quận công cho cha và tước bá cho con.

Chùa Diên Khánh 

Bên cạnh Đình là chùa Diên Khánh, hay là Diên Khánh tự, được xây dựng từ đời nhà Lý. Trong chùa còn giữ lại được nhiều di sản quý hiếm như: cụm văn bia từ đời Lê, chuông đồng đúc từ thời Cảnh Thịnh thứ 2.

Bia Bà La Khê

Bia Bà là tấm bia ghi về sự tích Bà đệ nhị cung phi triều Mạc Thái Tông, tên thật là Trần Thị Hiền tức Hoàng phi – vợ vua Mạc Đăng Doanh, được ghi trong  là Đông Cung Hoàng Hậu (phong sau khi mất).

Bà sinh năm 1511 và mất năm 1538. Thuộc gia đình thế phiệt nhiều đời làm quan trong triều, là con gái cụ Đô lực sĩ Thiết Sơn bá Trần Chân đời Lê sơ (hiện được thờ phía sau bên trái chùa Ngòi – Hà đông). Bà vừa xinh đẹp, thông minh lại vừa nết na thùy mị, lại hay giúp đỡ người nghèo khó, hướng dẫn người dân cách làm ăn, mở mang nghề dệt.

Khi lâm bệnh, bà về an nghỉ tại quê nhà cũ là làng La Ninh huyện Từ Liêm và khi mất, được chôn tại cánh đồng Đa Bang trong làng, được dân làng tôn là Đức Thánh Bà,

Bia ghi sự tích về bà được dựng lên tại cánh đồng Đa Bang (cong gọi là cánh đồng Hoàng hậu) trong 3 thế kỷ. Bia Bà La Khê không tự nhiên sụt lún mà bị phá vì lý do chống mê tín dị đoan, phá bằng thuốc nổ.

Còn sót lại được cái đầu rùa đá từ thời Mạc. Gia đình trưởng họ Trần – cụ Trần Văn Hòa mang về bảo quản ở vườn bao lâu nhưng không đủ sức để khôi phục, tái tạo khu di tích vì không có đất, không đủ tài chính.

Sau đó năm 1982 đã bàn giao cho Thị ủy Hà đông thành lập Ban di tích, ở sân đình làng La Khê. Gia tộc bây giờ còn giữ lại được di tích thời nhà Mạc của Thân phụ Đông cung Hoàng Hậu thời Mạc là Đô lực sĩ Thiết sơn bá Trần Chân may mắn không bị phá hủy nằm phía bên trái từ cổng vào ở chùa Ngòi Hà đông (Đạo Tràng Phúc Khê).

Con rể Mạc Đăng Doanh đã cho xây dựng chùa bên cạnh nơi thờ bố vợ để tụng kinh cho oan hồn đại công thần đã hy sinh vì nước được siêu thoát! Di tích còn lưu được đôi câu đối khóc bố vợ của vua Mạc Đăng Doanh đặt dọc am thờ.

Chùa Bia Bà

 

Thành tựu đạt được

Đình Bia Bà – La Khê (Quận Hà đông) được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1998.
Bảo quản và hành hương
Nơi đây được coi là linh thiêng và là địa điểm du lịch vắn hóa và tâm linh, nên hằng ngày có nhiều khách thập phương đến lễ cầu lộc, đặc biệt vào dịp Giao thừa và Tết và trong dịp lễ Hội làng La Khê, được tổ chức từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch.

Tuy nhiên, cũng xảy ra nhiều tiêu cực, như nạn khấn thuê và cắm hương xin lộc bừa bãi, không trật tự. Ngày 20 tháng 4 năm 2014, tạo lập và khánh thành thêm “Bia ghi dấu địa điểm xét xử đầu tiên của Tòa án nhân dân tại Bắc Bộ”

Năm 2014, Ban quản lý cụm di tích Đình, Chùa, Bia Bà La Khê đã lắp đặt bảng Led điện tử với kích cỡ hơn 10m² nhằm vinh danh công đức của những người quyên góp, thay cho việc khắc bia đá tri ân. Việc này là vi phạm Luật Di sản Văn hóa và các cơ quan chức năng tại Hà Nội (trong đó có Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội, Ủy ban Nhân dân quận Hà Đông) đã chỉ đạo tháo gỡ.

Trên đây là một số thông tin về Chùa Bia Bà mà Đồ thờ Hưng Vũ muốn chia sẻ với các bạn về một ngôi đền nằm nằm trong quần thể Di tích văn hóa La Khê, Hà Đông, Hà Nội. Hy vọng nội dung trên sẽ giúp các bạn hiểu thêm về ngôi Chùa này nhé!

Nếu các bạn muốn tìm hiểu thêm về các ngôi Chùa khác thì hãy đón đọc những bài viết mới của chúng tôi nhé!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *