Phật Thích Ca Mâu Ni: Lịch sử, cuộc đời, Nam mô bổn sư là gì?

Phật Thích Ca Mâu Ni là ai

Phật Thích Ca Mâu Ni là ai? Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật có ý nghĩa thế nào? Lịch sử Đức Phật Thích Ca ra sao? Cuộc đời Đức Phật Thích Ca trải qua những gì? Đối với Phật Giáo thì ngày lễ lớn nhất đó là lễ Phật Đản mà người Việt ai cũng biết đến bởi gắn liền với ngày Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời.

Tuy nhiên nhiều người có thắc mắc là Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật Tổ Như Lai có phải cùng một người hay không thì không phải ai cũng biết.

Vì vậy hôm nay Đồ Thờ Hưng Vũ sẽ tổng hợp và gửi tới bạn đọc toàn bộ thông tin về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Cùng theo dõi nhé!

Phật Thích Ca Mâu Ni là ai?

Phật Thích Ca Mâu Ni còn có tên là Siddhārtha Gautama (tiếng Phạn: सिद्धार्थ गौतम, chữ Hán: 悉達多瞿曇, phiên âm Hán-Việt: Tất-đạt-đa Cồ-đàm) hay Gautama Buddha, còn được gọi là Phật Sakyamuni (tiếng Phạn: शाक्यमुनि, chữ Hán: 釋迦牟尼, phiên âm Hán-Việt: Thích-ca Mâu-ni, trong khẩu ngữ thường gọi là Phật, Bụt, Phật Tổ, Đức Thế Tôn hoặc Đức Phật) là nhà tu hành, nhà truyền giáo, nhà thuyết giảng, nhà triết học và đạo sư sống ở Ấn Độ cổ đại, người sáng lập Phật giáo. Sinh ra ở vùng đất ngày nay là Nepal nhưng khoảng thời gian quan trọng nhất của Tất-đạt-đa gắn liền với các khu vực mà ngày nay là Ấn Độ khi ông đi xuống phía Đông và Nam để truyền đạo. Tín đồ Phật giáo xem ông là người đầu tiên giác ngộ để đạt niết bàn thành Phật.

Theo kinh Phật cùng sử liệu thì ông vốn xuất thân là thái tử vương tộc Gautama của tiểu quốc Sakya ở vùng Kapilavastu. Tuy nhiên, ông sớm từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý để lên đường đi tìm chánh đạo.

Sau 6 năm tu đạo, ông đạt được giác ngộ chính pháp vào năm 35 tuổi và dành tiếp 45 năm còn lại cho việc truyền bá, giảng dạy giáo lý Phật pháp trên khắp những khu vực ở Đông và Nam tiểu lục địa Ấn Độ.

Tất-đạt-đa đề xướng con đường Trung đạo – tức vừa từ bỏ đời sống xa hoa nhưng cũng không đi theo lối tu hành ép xác khổ hạnh vốn rất thịnh hành trong các học thuyết tôn giáo Ấn Độ thời đó. Giáo pháp của ông đặt nền tảng cho sự hình thành và phát triển của giáo lý đạo Phật ngày nay.

Ông được các Phật tử coi là người giác ngộ tự giải thoát bản thân khỏi quy luật sinh tử luân hồi đồng thời hiểu rõ được bản chất của mọi sự vật sự việc. Chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của ông được nhiều thế hệ học trò ghi nhớ và tổng hợp lại sau khi nhập Niết-bàn. Hàng loạt bản kinh ghi lại lời dạy của ông được lưu giữ qua nhiều thế hệ và dần bắt đầu được viết thành sách 200 năm sau đó.

Hình ảnh Phật Thích Ca Mâu Ni được khắc hoạ theo phong cách tuỳ theo văn hoá và phong cách của đất nước du nhập Phật Giáo.

Ví như là ở Việt Nam thì Ngài được khắc hoạ đậm chất Á Đông đó là khuôn mặt hiền từ, khoác lên người bộ quần áo hơi sặc sỡ. Còn ở Thái Lan, Miến Điện thì Đức Phật lại vô cùng giản dị, Ngài chỉ mặc áo 3 y, chân trần khất thực,…

Phật Thích Ca Mâu Ni là ai

Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật là gì?

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật có nghĩa là Bậc Thầy gốc của tất cả chúng sinh cõi Sa Bà. Chữ Bổn là gốc, Sư là Thầy, Bổn Sư ý nghĩa là Bậc Thầy Gốc của Phật, ngoài ra trong tiếng Ấn Độ dịch sang Trung Quốc thì tên của Ngài có nghĩa là Năng Nhân và Tịch Mặc. Ngài là bậc giác ngộ thấu hiểu được mọi chân lý của vạn pháp trên thế gian, thị hiện trong hình tướng loài người tại cõi Sa Bà để khai sáng cho nhân gian.

Lịch sử Đức Phật Thích Ca

Dù có nhiều hoài nghi và do dự trước đây, nhưng sau các khám phá khảo cổ vào đầu thế kỷ 20, hầu hết các học giả ngày nay đều công nhận Ngài đã sống và truyền dạy giáo lý trong thời Mahajanapada dưới thời cai trị của vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra) (558 – 491 TCN) và qua đời trong thời gian đầu của triều đại A-xà-thế (Ajātaśatru), người kế thừa của Tần-bà-sa-la. Cuộc đời của Tất-đạt-đa không những trùng hợp với thời kỳ phát triển của Bà-la-môn mà còn trùng với sự phát triển của trường phái tu khổ hạnh Sramana như Kỳ-na giáo, Ājīvika, Ajñana, Cārvāka (triết học duy vật khoái lạc).

Thời điểm chính xác năm sinh theo lịch hiện đại của ông không được ghi nhận rõ, dao động trong khoảng từ 624 tới 563 trước Công nguyên. Tuy nhiên, Đại hội Phật giáo Thế giới đã thống nhất cho rằng Tất-đạt-đa sinh khoảng năm 624 trước Công nguyên và qua đời khi 80 tuổi (năm 544 TCN).

Cha ông là vua Tịnh-phạn (Suddhodana), người đứng đầu tiểu quốc Thích-ca (Shakya), một tiểu quốc nằm ở vùng biên giới Ấn Độ – Nepal ngày nay, có kinh đô là Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu). Mẹ ông là hoàng hậu Ma-da (Maya), người tiểu quốc Koli láng giềng.

Thái tử Tất-đạt-đa được sinh ra tại vườn Lumbini (Lâm-tì-ni), nay thuộc Nepal.

Tiền kiếp của Thái tử Tất-đạt-đa là bồ-tát Setaketu, cư trú ở cõi trời Đâu-suất, trong khi theo quan niệm của đạo Bà La Môn, Setaketu là thái tử được thần Vishnu sai xuống làm con. Sau khi quán xét thấy nhân duyên và Ba-la-mật-đa đã chín muồi để đạt tới quả vị Phật, vị này quyết định biến hình thành một con voi trắng, nhập thai vào bà Maya cho lần luân hồi chuyển kiếp cuối cùng để thành Phật ở nhân gian.

Do lời tiên đoán rằng thái tử sẽ bỏ đi tu hành “sau khi thấy một người già, một người bệnh, một xác chết và một Sa môn” ở bốn cửa thành đông-tây-nam-bắc nên vua Tịnh-phạn tìm đủ mọi cách cho Tất-đạt-đa hưởng đầy đủ lạc thú trong hoàng cung, không bao giờ phải nhìn thấy các cảnh khổ đau, bệnh hoạn, già chết ở đời.

Tất-đạt-đa đã sống một cuộc sống thanh tịnh. Vua Tịnh-phạn vốn muốn con ông trở thành quân vương vĩ đại nên không muốn thái tử đi tu. Ông đã cho nhiều người danh tiếng dạy dỗ cho con rất kỹ lưỡng, cho thái tử hưởng đầy đủ vinh hoa phú quý, nhất là không để thái tử tiếp xúc với cảnh khổ của cuộc đời. Sau này, Phật kể lại: “Đời sống của ta (lúc bấy giờ) thật là tế nhị, vô cùng tinh tế. Trong hoàng cung, chỗ ta ở, phụ hoàng có đào ao, xây những đầm sen. Khi sen xanh đua nhau khoe màu ở đây thì sen đỏ vươn mình phô sắc phía bên kia, và trong đầm bên cạnh sen trắng đua nhau khoe vẻ đẹp dưới ánh nắng ban mai. Trầm hương của ta dùng đều là loại thượng hảo hạng từ xứ Ca-tây (Kāsi) đưa về. Khăn và xiêm áo của ta cũng may toàn bằng hàng lụa bậc nhất từ Ca-tây chở đến”.

Năm lên 18 tuổi, Tất-đạt-đa kết hôn với công chúa Da-du-đà-la (Yaśodharā) của thị tộc Khoa-lợi (Koli). Dù đã kết hôn, Tất-đạt-đa vẫn sống cùng công chúa Da-du-đà-la như đôi bạn thanh tịnh, đều yêu thích thiền định (Thiền), thực hành thiền định và lòng thấy an lạc.

Năm 29 tuổi, công chúa Da-du-đà-la hạ sinh một bé trai. Tất-đạt-đa thấy rằng việc có con khiến cho mong muốn rời nhà đi tu trở nên khó khăn hơn, nên đặt tên đứa trẻ là La-hầu-la (nghĩa là Chướng ngại).

Một đêm, Tất-đạt-đa hạ quyết tâm từ bỏ cuộc sống xa hoa, lìa cung điện bất chấp nỗ lực ngăn cản của cha mình. Trong đêm tối, Tất-đạt-đa gọi người nô bộc trung thành là Sa-nặc (Channa) lấy con ngựa Kiền Trắc (Kanthaka) rồi ra đi. Khi tới bờ sông A-nặc-mã (Anomà), Thái tử dừng lại, bỏ ngựa, cạo râu, cắt tóc, trao y phục và đồ trang sức cho Sa-nặc, lệnh cho Sa-nặc trở về thông báo việc này cho phụ hoàng. Sử sách Phật giáo xác định rằng đó là rạng ngày mồng 8 tháng 2 năm 595 trước công nguyên, và gọi đó là cuộc “Đại xả li” hoặc “Đại xuất hành” (cuộc ra đi vĩ đại)

Tất-đạt-đa bắt đầu thử cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Ông quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo phái khác nhau. Theo truyền thống Ấn Độ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Các vị đạo sư khổ hạnh danh tiếng thời đó là A-la-la Ca-lam (阿羅邏迦藍, sa. ārāda kālāma, pi. āḷāra kālāma) và Ưu-đà-la La-ma tử (優陀羅羅摩子, sa. rudraka rāmaputra, pi. uddaka rāmaputta). Nơi A-la-la Ca-lam, Tất-đạt-đa nhanh chóng đạt đến cấp Thiền Vô sở hữu xứ (sa. ākimcanyāyatana, pi. ākiñcaññāyatana), nơi Ưu-đà-la La-ma tử thì học đạt đến cấp Phi tưởng phi phi tưởng xứ (sa. naivasamjñā-nāsaṃñāyatana, pi. nevasaññā-nāsaññāyatana), là trạng thái siêu việt nhất của thiền định.

Nhưng Tất-đạt-đa cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình. Ngay cả cấp độ thiền định cao nhất là “Phi tưởng phi phi tưởng xứ” cũng chưa đạt đến mức độ triệt để cho việc giải thoát khỏi khổ đau, không phải là chân lý tối hậu, nên ông quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát. Có 5 Tỳ-kheo (năm anh em ngài Kiều Trần Như, (Kondañña) đồng hành cùng ông.

Sau 5 năm tu khổ hạnh, có lúc gần kề cái chết, Tất-đạt-đa nhận ra đó không phải là cách tu dẫn đến giác ngộ, nên ông bắt đầu ăn uống bình thường, 5 Tỳ-kheo kia thất vọng bỏ đi.

Sau 6 năm tu khổ hạnh không đạt kết quả, Tất-đạt-đa quyết định ăn uống bình thường trở lại và đi đến Giác Thành. Tất-đạt-đa thường đến bờ sông Nairanjana (Ni-liên-thiền, hiện nay là sông Phalgu) ngồi thiền định trên bãi cát. Một hôm, có hai cô bé chăn bò tên: Nan-đà Nanda và Ba-lạp (Balap) đang dắt bò xuống sông tắm thì thấy Tất-đạt-đa đang ngồi thiền định, họ sanh lòng kính mến liền tự tay vắt lấy sữa bò, nấu chín rồi dâng lên. Tất-đạt-đa ăn xong cảm thấy thân thể khoẻ mạnh.

Đến ngày thứ 49, Tất-đạt-đa ngồi thiền định dưới gốc cây cổ thụ Ni-câu-đà (cách cây Bồ-đề khoảng 150 m về hướng đông), sắp đi khất thực, thì có hai chị em nàng Tu-Xà-Đề (Sujata), con ông trưởng làng Senani, mang bát cháo sữa (kheer) đến cúng vị Thần gốc cây để tạ ơn. Khi thấy Tất-đạt-đa đang tĩnh tọa, hào quang của ông sáng tỏa làm cho Sujata tưởng rằng vị Thần cây đang hiện thân, hai nàng đặt bát cháo sữa bằng vàng trước mặt, cung kính đảnh lễ rồi ra về. Sau khi ăn xong bát cháo sữa, Tất-đạt-đa thấy cơ thể khỏe mạnh lạ thường nên không đi khất thực mà xuống sông Ni-liên-thiền tắm, tâm trạng ông vô cùng phấn chấn, cảm thấy sắp đạt thành tựu viên mãn.

49 ngày sau khi đắc đạo, Phật chỉ thiền định, không ăn uống. Đến ngày từ 49, có hai thương gia người Miến Điện tên Tapassu và Bhallika từ Ukkala (hiện nay là Orissa) đến. Hai thương gia sửa soạn bột rang và mật ong rồi đến trước Phật rồi cung kính dâng lên. Phật nhận lãnh rồi khuyên 2 thương gia quy y Phật và quy y Pháp, thọ trì năm giới để được phước báo lâu dài. Hai thương gia đồng ý, xin Phật thu nhận vào hàng thiện tín (Upāsaka, nam cư sĩ). Đó là hai thiện tín đầu tiên đã quy y Nhị Bảo (Phật và Pháp, khi đó chưa có Tăng) và là hai vị Phật tử Tại gia đầu tiên. Sau khi đã được Đức Phật ban pháp quy y và truyền năm giới (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu, không nói dối), hai vị thương gia xin ông ít vật lưu niệm để luôn luôn tưởng nhớ đến ông. Đức Phật tặng cho hai vị 8 sợi tóc và móng tay, rồi ban lời tiên tri: “Các ông vậy là có đại nhân duyên. Mấy sợi tóc của Như Lai không phải đơn giản. Sau này, lúc Như Lai nhập diệt rồi, ở xứ các ông sẽ thịnh hành giáo pháp diệt khổ nhiều ngàn năm”. Hai vị cung kính nhận lãnh, lạy tạ rồi mang về Miến Điện xây tháp thờ. Hiện nay, Phật giáo là quốc giáo của Miến Điện, 8 sợi tóc bảo vật này vẫn còn được giữ gìn cẩn thận trong bảo tháp của chùa Shwedagon tại thủ đô Rangoon (Ngưỡng Quang) của Miến Điện, được người Myanmar xem là quốc bảo.

Trong kinh điển Pali, Phật Thích Ca tại thế tám mươi năm. Tuy trải qua suốt phần đời còn lại – 45 năm đi giảng dạy, nhưng ông lại lưu ý với các đệ tử rằng: Đối với chân lý, Như Lai chưa từng nói lời nào. Ý nghĩa của câu này là: giáo pháp của Phật là một phương tiện để người tu hành đạt tới giác ngộ chân lý, chứ chính nó không thể mô tả hoàn toàn chân lý. Chân lý rất vi diệu, không thể dùng lời nói để diễn tả đầy đủ mà phải tự mình chứng đắc, những lời dạy của Phật chỉ là phương tiện để giúp người tu hành tự mình đạt tới chân lý mà thôi. Phật xem những bài thuyết pháp của ông cũng như ngón tay chỉ tới mặt trăng, chứ không phải là mặt trăng. Người ta phải nương vào ngón tay để thấy được mặt trăng, còn nếu chỉ cố chấp vào ngón tay, chỉ tập trung nhìn ngón tay thì sẽ không bao giờ thấy được mặt trăng. Như Lai dạy cho người khác con đường giác ngộ chân lý, nhưng mỗi người phải tự bước trên con đường giác ngộ chân lý cho mình.

Phật Thích Ca Mâu Ni là ai

Cuộc đời Đức Phật Thích Ca

Trong ghi chép của lịch sử Phật giáo vốn không có sự đồng nhất về cuộc đời của Phật Thích Ca Mâu Ni. Mỗi một vùng miền lãnh thổ lại có cách vẽ nên câu chuyện cuộc đời của Ngài một cách khác nhau.

Vì thể trong bài viết này chúng tôi sẽ tường thuật cơ bản về sự tích Phật Thích Ca Mâu Ni, từ khi chào đời đến quá trình trưởng thành đi theo con đường tu hành và sự ra đi của Ngài.

Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời

Theo truyền thuyết kể rằng, khi ngày hạ sinh Thái tử, Hoàng hậu Maha Maya đã ngủ mơ thấy cảnh tượng một con bạch tượng bước ra từ ngọn núi vàng, tiến đến dâng lên cho bà một đóa sen trắng.

Cho rằng đây là điềm báo đứa bé sinh ra sẽ là một vĩ nhân, hoàng hậu đã lập tức báo cho Nhà Vua và triệu tập ngay các nhà hiền triết đến.

Vào ngày trăng tròn, ngày 8 tháng 4 năm 624 TCN, Thái tử Tất Đạt Đa đã ra đời.

Ngay lúc đó cả nhân gian đã được bao phủ bởi ánh hào quang rực, sự bình yên và hạnh phúc ngập tràn. Trong lễ đặt tên cho Thái tử, có rất nhiều vị đạo sĩ nổi tiếng của đất nước đến để xem tướng cho Ngài.

Một trong đó, Tiên A Tư Đà đã phán rằng: Thái tử có 32 tướng tốt nên chắc hẳn đây sẽ là một vị thánh nhân. Tuy nhiên, Nhà Vua chỉ muốn Thái tử nối ngôi mình để cai quản đất nước mà thôi.

Thế nên, ông đã đặt tên cho con mình là Tất Đạt Đa (Siddartha), theo tiếng Phạn có nghĩa là kẻ sẽ giữ chức vị mà mình phải giữ”.

Không ai có thể đoán trước được rằng, chức vị phải giữ của Phật Thích Ca Mâu Ni sau này không phải là ngôi vị như Vua cha mong muốn mà trở thành một vị Phật.

Qua trình trưởng thành Đức Phật Thích Ca

Thái tử Tất Đạt Đa trưởng thành với diện mạo khôi ngô, tuấn tú

Vì là Thái tử của một bộ tộc nên từ khi được sinh ra Ngài đã được sống trong sự xa hoa của một bậc vua chúa, Ngài được bao bọc và dạy dỗ bởi các tu sĩ Bà La Môn. Ngoài học văn, Ngài còn được rèn luyện về cưỡi ngựa, bắn cung,…

Thái tử mỗi năm mỗi lớn, diện mạo càng thêm khôi ngôi, tài năng càng phát lộ gấp bội. Sau này, Thái tử thành thân với công chúa Gia Du Đà Là và có một cậu con trai.

Cảm thương cho những hoàn cảnh bất hạnh

Tuy lớn lên trong sự bao bọc xa hoa. Nhưng Ngài luôn để tâm đến những điều bất bình tưởng chừng như hiển nhiên, vì thế tấm lòng bao la ấy không thể yên lòng.

Vào ngày Thái tử dự lễ hạ điền, khi chứng kiến cảnh người nông dân cầm đánh vào con trâu đang khổ sở kéo cày, lưỡi cầy bới đất tung lên kéo theo những con côn trùng, có con bị lưỡi cày cắt ngang thân đau đớn chết, có con lại bị chim bay xuống gấp đi.

Chứng kiến cảnh tượng đó, Ngài rất buồn phiền trước thực tế nghiệt ngã của trần tục nên đã ngồi ở một gốc cây to để thiền.

Ngày qua ngày Thái tử lớn nhanh như thổi, càng lớn diện mạo Ngài càng trở nên khôi ngô, tuấn tú, sức khỏe cường tráng, phi phàm hơn người, thông minh xuất chúng.

Đến tuổi trưởng thành, Thái tử thành thân với công chúa Da Du Đà La, lúc này Ngài 16 tuổi.

Phật Thích Ca Mâu Ni muốn cứu giúp nhân gian thoát khổ khi vẫn còn là Thái tử

Tưởng chừng như Thái tử đã có tất cả, nhưng sâu bên trong người vẫn luôn thấy lòng nặng trĩu vì một điều gì đó.

Trong lúc đi dạo xung quanh thành, Ngài đã nhìn thấy hình ảnh một người già yếu, một người bệnh tật, một cái xác chết và một vị tu sĩ.

Từ 4 hình ảnh ấy Thái tử đã giác ngộ ra một điều rằng: con người sinh ra rồi cũng sẽ già yếu, gặp phải bệnh tật rồi cuối cùng sẽ chết đi dù họ là ai đi nữa thì cũng phải đối diện với sự thật cay nghiệt đó.

Ngài thật sự cảm thấy quý trọng bởi hình ảnh của người tu sĩ kia.

Quyết tâm tìm đường tu đạo

Thái tử quyết định phải làm điều gì đó để gỡ bỏ khuất mắc này.

Vì thế trong một đêm khuya nhân lúc cả cung điện đều đã say giấc sau một đại tiệc. Sau khi nhìn vợ con lần cuối, Ngài dứt áo rời khỏi thành Ca tỳ la vệ.

Thái tử cùng với người giữ ngựa tên là Xa Nặc và chú ngựa Kiền Trắc rời thành trong đêm, lúc này Ngài 19 tuổi.

Sau khi rời thành đi đến bờ sau Anoma, Thái tử đã tự cắt tóc mình, cởi bỏ y phục, trang sức đưa cho Xa Nặc và trao lại ngựa, bảo Xa Nặc trở về cung điện.

Thái tử đã bỏ cung điện nguy nga để đến với con đường tu đạo

Phật Thích Ca Mâu Ni là ai

Phật Thích Ca Mâu Ni bước vào con đường tu đạo khi ở kiếp người

Trong suốt cuộc hành trình, Ngài đã học được nhiều điều trong cuộc sống nhân gian. Sau khi thọ giáo hai người thầy là Alara Kalama và Uddaka Ramputta.

Thái tử đã đến một khu rừng để tu ép xác khổ hạnh cùng năm người anh em nhà Kiều Trần Như suốt 6 năm đến mức cơ thể suy nhược, yếu ớt tưởng như sắp chết.

Ngay lúc đó, Ngài bất chợt nghe tiếng đàng của đấng Phạm Thiên Indra, đó cũng là lúc Thái tử thấy được con đường trung dung, trung đạo thế nên đã ăn uống trở lại bình thường.

Năm người anh em cho rằng Thái tử đã bỏ cuộc nên vô cùng thất vọng. Họ bỏ Ngài lại một mình để tìm nơi khác tiếp tục quá trình ép xác tu hành.

Sau khi thực thọ xong, Thái tử đặt chiếc bát để nó cuốn trôi xuống dòng sông Ni Liên và nguyện thề sẽ tu luyện rốt ráo.

Khi nhận được một bó cỏ thơm Kusa từ người nông dân. Ngài đã ngồi dưới gốc ây Bồ đề, dùng bó cỏ làm thành gối lót tọa thiền và nguyện thề: “Nếu ta không thành đạo thì dù thịt nát xương tan ta cũng quyết không đứng dậy khỏi nơi này.”.

Một cơn mưa trái mùa kéo đến khiến Thái tử phải ngồi thiền dưới trời mưa lớn.

Ngay lúc đó, Vị thần rắn Naga đã xuất hiện quấn mình quay Ngài thành 7 vòng để nâng cơ thể Ngài lên và dùng đầu mình phình mang che mưa cho Ngài.

Trong suốt quá trình tu luyện, Ngài đã nhìn thấy được kiếp trước của mình, của nhân loại, sự hình thành và tiêu tàn của thế giới.

Hành trình tu đạo thành công

Phật Thích Ca Mâu Ni đã ngồi nhập định suốt 49 ngày đêm dưới gốc cây Bồ Đề. Trong 49 ngày ấy, nội tâm của Ngài liên tục phải chiến đấu với những điều phàm tục như sân, si, tham, nghi, mạn,… và cả Ma Thiên thuộc Ma vương Ba Tuần chỉ huy.

Cuối cùng Ngài cũng được chứng quả, trong đêm thứ 49 và thấy rõ tất cả quá khứ của mình trong tam giới – gọi là Túc Mệnh Minh. Đồng thời thấy được tất cả bản thể của vũ trụ và cấu tạo của nó – gọi là Thiên Nhãn Minh.

Qua đó, Ngài biết rõ nguồn gốc của mọi khổ đau và phương pháp chữa lành để giải thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Ngài được phong làm Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngày thành đạo là ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, vào khoảng khắc sao mai mọc trên bầu trời. Lúc này Ngài 30 tuổi.

Kết thúc kiếp Người, trở thành Đức Thế Tôn được người người tôn kính

Theo Kinh Đại Bát Niệt Bàn, sau khi dùng bữa cơm có nấm và bị ngộ độc. Sức khỏe của Ngài trở nên suy yếu và qua đời năm 544 TCN, hưởng dương 80 tuổi.

Phật Thích Ca Mâu Ni được nhập Niết Bàn tại thành Câu Thi Na (Kusinagar).

Sau khi Đức Phật nhập diệt vào mùa mưa, năm trăm đệ tử của người đã họp tại một hang núi gần thành Vương Xá để ôn tụng lại tất cả bài giảng của Ngài để thể hiện lòng tôn kính vô hạn dành cho Đức Thế Tôn.

Lời tiên tri thật sự đã linh nghiệm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã có mặt tại nhân gian và đang phù hộ độ trì cho chúng ta.

Hình dáng của Phật Thích Ca

Có rất nhiều giả thiết miêu tả về ngoại hình của Phật Thích Ca trong kinh nhà Phật và các sự tích truyền miệng. Theo đó, Thái tử là một người có đầy đủ 32 tướng tốt và được rèn luyện sức mạnh lẫn ý chí, tâm hồn. Ngài được nuôi dạy chu đáo để hoàn thiện toàn diện cả về văn và võ.

Từ những năm niên thiếu, ông đã được truyền thụ võ công cao thâm và đặc biệt có sở trường trong việc bắn cung. Nhìn chung, trước khi trở thành tu sĩ  Ngài là một người có cơ thể cường tráng và phi phàm hơn những người khác thời bấy giờ.

Một tín đồ Bà la môn đã miêu tả chân dung Phật Thích Ca là có làn da đẹp, vẻ ngoài thần thái và oai nghiêm. Có thể nói ông dễ nhìn, đẹp sáng, thể hình và nét trang nghiêm đặc biệt khác người tạo cho người đối diện sự tin tưởng.

Theo Anguttara Nikaya kinh số 36, Đức Phật Thích Ca được miêu tả là một người đẹp đẽ, vẻ ngoài trang nghiêm, tâm thanh tịnh và trầm tĩnh như một chú voi được thuần thục hoàn hảo.

Đôi mắt của Đức Phật Thích Ca thường nhìn xuống biểu thị sự quan sát về nội tâm. Giáo lý của Phật hướng đến giúp con người làm chủ mọi quả báo, đau khổ hay an lạc đời mình.

Những lời khuyên răn của Phật giúp các quý phật tử tự sửa đổi hành vi trong cả hành động và tâm niệm sao cho đạt được sự an vui, hạnh phúc sau này. Xung quanh tượng Phật Thích Ca có những tia sáng hào quang chiếu rọi biểu thị là ánh sáng tri thức soi chiếu nhân gian.

Nơi thờ đức Phật thường đặt tượng Ngài trên đài sen tượng trưng cho sự thanh cao, trong sạch và hàm ý giải thoát mọi trần ai, đau khổ của cuộc đời. Tìm được cái thanh tịnh ngay giữa sự ô uế mới chân thật là thanh tịnh.

Có không ít đệ tử trong quá trình tu hành chưa tôi luyện thành A la hán thường bị mê hoặc bởi vẻ ngoài của Ngài. Nhưng Đức Phật Thích Ca đã có lời khuyên răn rằng đừng nhìn vào hình dáng bên ngoài mà hãy dùng cái tâm thanh tịnh nhìn vào giáo pháp mà ông truyền tụng để cảm nhận được một Đức Như Lai chân thật nhất

Danh hiệu Phật Thích Ca nghĩa là gì?

Phật Thích Ca có hai tên hiệu là Kiều Đạt Ma Tất Đạt Đa và Thích Ca Mâu Ni. Mỗi tên gọi có những ý nghĩa khác nhau và đã được giải nghĩa trong nhiều bộ kinh Phật.

Tên gọi Kiều Đạt Ma: Là tên gọi thế tục của Thái tử trước khi rũ bỏ hoàng bào đến nơi cửa Phật. Điều Đạt Ma là họ tộc ở Ấn Độ. Hiểu theo tiếng Phạn, Kiều Đạt Ma chỉ sự hiền lành tốt đẹp và tên Tất Đạt Đa của Ngài hướng đến sự may mắn và cát tường. Tổng thể tên họ của Đức Phật Thích Ca trước đây có thể hiểu là “hoàn thành trọn vẹn”.

Tên gọi “Thích  Ca Mâu Ni”: Thế nhân xưa đã tôn Ngài trở thành Thích Ca Mâu Ni, trong đó Thích Ca chỉ bộ tộc của Ngài. Ngoài ra, theo tiếng Phạn Thích Ca còn có ý nghĩa tương tự như văn võ song toàn.

Mâu Ni là cách gọi một cách tôn kính của người Ấn Độ với các bậc thánh nhân hàm ý chỉ những người cạo đầu tu hành và đạt chính quả. Nhìn chung, cái tên Thích Ca Mâu Ni có thể hiểu trọn vẹn là người cạo đầu đi tu thuộc tộc Thích Ca đã thành công giác ngộ.

Phật Thích Ca Mâu Ni là ai

Phật Thích Ca có phải là Phật Tổ không?

Với thông tin trên thì nếu bạn đang thắc mắc Phật Thích Ca có phải là Phật Tổ hay không thì lời giải đáp đó chỉ là một người. Phật Tổ chính là một biệt hiệu khác của Phật Thích Ca.

“Như Lai” được dịch từ chữ “ Tathagata” trong tiếng Phạn. “Như” còn gọi là “Như Thục” hay “Chân Như” là để chỉ chân lý tuyệt đối, chân tướng của sự thật, bản thể của vũ trụ vạn hữu. “Lai” còn có nghĩa là đến.

“Như Lai” là chỉ những người đến bằng con đường chân thực, những người thấy rõ chân lý, những người đi theo con đường đúng đắn đến được chính xác. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một trong số những người đến bằng cách như vậy nên được gọi là “Như Lai”.

Từ Như Lai nếu dùng trong phạm vi hẹp thì là một tôn hiệu riêng của đức Phật Thích Ca nhưng xét rộng ra thì còn được dùng để chỉ tất cả các vị Phật khác như như là Phật A Di Đà Như Lai, Phật Dược Sư Như Lai,..

Không chỉ Phật Tử trên thế giới mà ngay cả những người không theo đạo chắc chắn đã từng gặp hình ảnh Phật

Thích Ca Mâu Ni hay Phật Tổ được tạc khắc thành tượng hay phác hoạ qua tranh ảnh được trưng bày nhiều nơi, nhất là những nơi như chùa chiền, nời thờ cúng của Phật Giáo trong các triều đại lịch sử hàng trăm, nghìn năm trước.

Phật Thích Ca và Phật A Di Đà có phải là một?

Rất nhiều người nhầm lẫn Phật Thích Ca Mâu với Phật A Di Đà đều là một vị Phật. Nhưng thực chất đây là 2 vị Phật tách biệt. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là vị Phật có trong lịch sử và sáng lập nên Phật Giáo còn Đức Phật A Di Đà chỉ xuất hiện trong kinh Phật giáo.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc giáo chủ cõi Ta Bà. Ngài từng sống trên trái đất và đã sáng lập ra Phật Giáo và còn được gọi là Phật Tổ. Còn Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật Giáo Đại Thừa.

Phật A Di Đà là chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Tên của Ngài nghĩa là Vô Lượng Thọ, nghĩa là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng.

Phật A Di Đà là vị Phật xuất hiện trong kinh Phật Giáo và không phải là vị Phật có trong trong lịch sử như là Phật Thích Ca. Và nếu như bạn muốn biết rằng giữa 2 vị Phật này ai lớn hơn thì mỗi vị Phật đều tuỳ cơ duyên mà hội ngộ chúng sanh nên thực tế không có vị Phật nào lớn hơn.

Điều mà ở những vị Phật này mong muốn đó là những người con Phật nên tin tưởng và noi gương học theo Phật, làm việc lành tránh dữ, một lòng thành tâm chí kính hướng Phật.

Phật Thích Ca Mâu Ni là ai

Phật Thích Ca có bao nhiêu đệ tử?

Phật Thích Ca mâu có 10 đệ tử và mỗi đệ tử lại có một đặc điểm riêng:

  • Tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputra – Sariputa): Trí tuệ đệ nhất.
  • Tôn giả Mục Kiền Liên (Maudgalyayana – Moggallana): Thần thông đệ nhất.
  • Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa – Mahakassapa): Đầu đà đệ nhất.
  • Tôn giả A Nâu Đà La (Aniruddha – Anurauddha): Thiên nhãn đệ nhất.
  • Tôn giả Tu Bồ Đề (Subhuti): Giải không đệ nhất.
  • Tôn giả Phú Lâu Na ( Purna – Punna): Thuyết pháp đệ nhất.
  • Tôn giả Ca Chiên Diên (Katyayana – Kaccayana, Kaccana): Luận nghị đệ nhất.
  • Tôn giả Ưu Ba Ly (Upali): Trì giới đệ nhất.
  • Tôn giả Anan (Ananda): Đa Văn đệ nhất.
  • Tôn giả La Hầu La (Rahula): Mật hạnh đệ nhất.

Ngài dạy dân làng thực hành chánh niệm trong khi múc nước từ giếng, và khi một người mẹ đau buồn xin Ngài làm cho đứa con đã chết của bà sống lại, Ngài không làm phép lạ mà bảo bà mang nó đến cho Ngài một nắm hạt cải từ một ngôi nhà nào đó trước đó chưa có ai chết.

Sau khi tìm kiếm, cô trở về tay trắng, nhưng hiểu rằng cái chết đến với tất cả mọi người.

Trên đây là thông tin về Phật Thích Ca Mâu Ni là aiĐồ Thờ Hưng Vũ đã tổng hợp và gửi tới bạn đọc. Hy vọng qua nội dung trên các bạn cũng hiểu hơn về câu nói Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật có nghĩa là gì rồi.

Nếu quan tâm tới các thông tin khác về đạo Phật thì hãy đón đọc bài viết mới nhất của chúng tôi nhé!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *