Hệ Thống Tượng Phật Và Cách Bài Trí Tượng Phật Trong Tam Bảo , Tượng Tam Thế Phật , Tượng Di-Đà tam tôn , Tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh , Tượng Cửu Long Thích Ca Sơ Sinh , Tượng Di Lặc Tuyết Sương

Đức Phật có tam thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Cách bài trí các tượng Phật ở chánh điện theo đúng ý nghĩa ấy cho nên ở lớp trên cùng là thờ Pháp thân Phật, tức là thờ thường trụ Phật ở trong vũ trụ; Ở lớp thứ hai thờ Báo thân Phật, tức là thờ Thụ-dụng trí-tuệ Phật ở cõi cực lạc; ở lớp thứ ba là thờ Ứng thân Phật, tức là thờ Phật đã hoá hiện ra sác thân ở trần thế. Từ lớp thứ tư trở xuống bày những cảnh quan hệ đến lúc sơ sinh của đức Thích Ca Mầu Ni Phật và những tượng các vị thần khác.

Phật giáo đã hòa nhập vào từng phong tục lãnh thổ và đã hình thành nên sự phong phú, đa dạng trong cách thờ phượng của Phật giáo. Phật giáo phân thân để hòa nhập nhưng nguyên thể không hai. Nói cách khác, phương pháp thờ Phật mọi miền tuy khác nhau nhưng biểu tượng và nghĩa lý không khác. Một ngôi chùa Phật giáo (theo Bắc tông – ở miền Bắc nước ta) phổ biến có 4 khu vực: Chính điện, Tiền đường, Nhà hành lang, Nhà Tăng. Ngoài ra còn có Nhà Tổ và Trai đường.
Trong chính điện thờ Phật, triết lý vô thường của Phật giáo được đặt lên hàng đầu thể hiện qua tam thân Phật là “Pháp thân”, “Báo thân” và “Ứng than”. Cách bài trí các tượng Phật ở chính điện theo đúng ý nghĩa ấy, cho nên ở lớp trên cùng là thờ “Pháp thân Phật”, tức là thờ thường trụ Phật ở trong vũ trụ. Ở lớp thứ hai thờ “Báo thân Phật”, tức là thờ thọ dụng trí tuệ Phật ở cõi Cực Lạc. Ở lớp thứ ba là thờ “Ứng thân Phật”, tức là thờ Phật đã hoá hiện ra xác thân ở trần thế. Lớp thứ 4 là lớp tượng “Di lặc Bồ-tát” và hai vị “Phổ Hiền Bồ-tát” và “Văn thù Bồ-tát” đứng hai bên, thường gọi là bộ tượng “Di Đà Tam tôn”. Lớp thứ năm trở xuống thường có tượng đức Phật tu khổ hạnh ở chân núi Tuyết Sơn, tượng đức Phật nhập Niết bàn và đức Phật đản sanh.Vậy cách bài trí các tượng ở chính điện từ trên xuống dưới theo thứ tự sau đây:

.
A)-Tượng Tam Thế Phật


Lớp trên cùng tột ở chỗ giáp vách phía trong, có ba pho tượng để ngang một dẫy, hình dáng giống nhau, tức là tượng “Thường trụ tam thế diệu pháp thân”, người ta thường gọi tắt là tượng Tam thế Phật, nghĩa là Phật thường trụ, trong thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai.
Thứ 1, chữ Thế có thể hiểu là Thời. Vậy Tam Thế Phật là Phật 3 thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Phật quá khứ là Phật Ca Diếp (hiện ở đời khi tuổi thọ chúng sinh Diêm Phù Đề là 20.000 tuổi), Phật hiện tại là Phật Thích Ca Mâu Ni (hiện ở đời khi tuổi thọ chúng sinh không quá 100 tuổi), Phật tương lai là Phật Di Lặc (hiện ở đời khi tuổi thọ chúng sinh đạt 10.000 tuổi). Nói rộng ra theo nghĩa này thì Tam Thế Phật là Phật của cả 3 thời: quá khứ, hiện tại và tương lai, tức là vô lượng vô biên vô số chư Phật mười phương.
Thứ 2, chữ Thế có thể hiểu là Thế giới, gồm có phương Đông là thế giới Tịnh Lưu Ly của Phật Dược Sư, phương Tây là thế giới Cực Lạc của Phật A Mi Đà và trung tâm là thế giới Sa Bà của Phật Thích Ca Mâu Ni. Theo nghĩa này, Tam Thế Phật là không gian vô lượng của thế giới chư Phật từ Đông sang Tây, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, …, vô lượng vô biên vô số quốc độ Phật như thế.
Di Lặc là tên phiên âm chữ Hán, dịch nghĩa là “Từ Thị” tức là người có lòng từ bi, là một vị Bồ Tát và cũng là vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái Đất theo truyền thuyết Phật giáo trong khoảng 30.000 năm nữa. Tượng Di Lặc được tạo hình là một người ngồi trên mặt đất trong tư thế sẵn sàng đứng dậy đi giáo hóa chúng sinh, hình tướng mập mạp, mặt tròn, miệng cười, phong thái luôn vui vẻ. Ở trong chùa, nhiều nơi thường không có tượng Di Lặc.
Có nơi ở 2 bên tượng Di Lặc có hai tượng trợ thủ là Pháp Hoa Lâm Bồ Tát và Đại Diệu Tường Bồ Tát. Bộ ba tượng này được gọi là Di Lặc Tam Tôn.

Còn có một số ít chùa tại hàng thứ tư trên Phật điện bày 2 tượng: Di Lặc Bồ Tát đặt bên phải và tượng Tuyết Sơn đặt ở bên trái.
Cho nên khi nhắc đến Tam Thế Phật người ta cũng có thể hiểu đó là bộ 3 vị Phật Ca Diếp, Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật Di Lặc. Nhưng cũng có thể là bộ 3 vị Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, A Mi Đà Phật và Phật Thích Ca Mâu Ni.
.
B)-Tượng Di-Đà tam tôn. Còn được gọi là Tây Phương Tam Thánh.


Lớp thứ hai có ba pho tượng lớn, pho tượng ngồi giữa là pho tượng đức A-Mi-Đà Phật, tức là Thụ-dụng Trí-tuệ thân, Pho tượng đứng bên tả là tượng đức Quan-Thế-Âm Bồ Tát tay cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy, pho tượng đứng bên hữu là tượng đức Đại Thế-Chí Bồ-Tát tay cầm cành hoa sen màu xanh. Đức Phật và hai Bồ Tát ấy ở Tây-phương Cực-lạc, chủ việc cứu độ chúng sinh ở cõi Sa-bà qua cõi Cực lạc. Chùa hay Phật tử tu theo Tịnh Độ thì thường trưng bày như vậy theo 2 biểu tượng triết lý như sau :
Biểu tượng 1 :
Phật A Di Đà biểu tượng cho Thanh Tịnh-Giải Thoát.
Bồ-tát Quán Thế Âm biểu tượng cho Từ Bi cao thượng.
Bồ-tát Đại Thế Chí biểu tượng cho Trí Tuệ siêu việt.
Ba vị này được cho là thường tiếp dẫn các chúng sanh ở 10 phương thế giới, tu vãng sanh Tịnh Độ. Đây là ba tính chất mà người tu cần thành tựu viên mãn.
Biểu tượng 2 :
Phật A Di Đà biểu tượng cho Thanh Tịnh Pháp Thân của chư Phật.
Bồ Tát Đại Thế Chí, biểu tượng cho việc tự giác tự độ (xem đoạn kinh “Đại Thế Chí Bồ tát niệm Phật chương”).
Bồ Tát Quán Thế Âm, biểu tượng cho việc giác tha độ tha (xem kinh Phổ Môn).
Phật A Di Đà và hai Bồ Tát tượng trưng cho hạnh của chư Phật và chư Bồ Tát là “Tự độ, độ tha. Tự giác, giác tha. Do đó giác hạnh viên mãn”. Đây cũng là kim chỉ nam cho người tu theo đạo Phật.
Bồ Tát Quán Thế Âm được nhiều người nhắc đến và tạc tượng lộ thiên ở các chùa, tu viện, tùng lâm, để ca ngợi hạnh kham nhẫn và đức từ bi cao thượng.
Bồ Tát Ðại Thế Chí biểu trưng cho đức tinh tấn và ánh sáng trí tuệ. Ngài còn có danh hiệu là Ðắc Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Lực Ðại Thế Chí Bồ Tát, Ðại Tinh Tấn Bồ Tát hay Vô Biên Quang Bồ Tát.
Các danh hiệu của Bồ Tát Đại Thế Chí nói lên hạnh nguyện đại hùng, đại lực, đại tinh tấn và ánh sáng trí tuệ vô biên chiếu khắp mọi loài chúng sanh, có thể phá trừ vô minh, điều phục tham sân si, chuyển hóa phiền não thành bồ đề. Các vị Bồ Tát đều có từ bi, trí tuệ và ý chí xuất phàm như nhau, đó là nhân để tiến đến Phật quả.
Bồ Tát Đại Thế Chí tay cầm cành hoa sen màu xanh. Hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết trong sạch, không dính danh lợi thế gian, có sức mạnh tự tại vượt thoát khỏi bùn nhơ, thành tựu trí tuệ. Màu xanh của hoa sen tỏa ánh sáng xanh trên cõi trời tây phương tịnh độ, và còn là sức mạnh tinh tấn của chánh định, là trí tuệ siêu việt như trời biển tĩnh lặng rộng lớn bao la bát ngát.
Như vậy ở lớp thứ hai thường thờ ba vị Phật A Mi Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí.
.
C)-Tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh. (hoặc Niêm Hoa Vi Tiếu trong phái Thiền, Tuyết Sơn Tam Thánh trong Phật Giáo Bắc Tông)

Lớp thứ ba có ba pho tượng lớn, pho tượng lớn ngồi giữa là tượng Thích Ca Mầu Ni Phật, tức là Ứng- thân hay là biến hóa thân, giáng sinh xuống trần thế, tu thành chính quả và thuyết pháp độ chúng, pho tượng ở bên phải, hoặc đứng trên toà sen , hoặc ngồi trên con sư tử xanh là tượng Đức Văn-Thù Bồ-Tát; pho tượng ở bên hữu, hoặc đứng trên toà sen, hoặc ngồi trên con voi trắng là tượng Đức Phổ-Hiền Bồ-Tát, theo thuyết nói trong Hoa Nghiêm kinh. Hai vị Bồ Tát này là hai bậc thượng thủ của hết thảy hàng Bồ Tát, thường giúp đỡ, tuyên dương cho việc giáo hóa chúng sinh của đức Phật Như Lai.
Ở lớp thứ ba ấy có nhiều chùa làm tượng đức Thích Ca Mầu-Ni ngồi cầm hoa-sen, như khi ngài thuyết pháp ở Linh-Thứu-Sơn, thường gọi là bộ tượng Niêm Hoa Vi Tiếu. Ca Diếp (tượng có nét mặt già hơn) là người đứng đầu trong các đệ tử của Phật Thích Ca, tu theo phép tu khổ hạnh. Ngài hiểu rõ giáo lý của Phật hơn cả nên khi Phật Thích Ca sắp viên tịch có truyền lại cho Ca Diếp y bát (áo cà sa và bát) để biểu thị ý nghĩa trao lại đạo thống. Ca Diếp được coi là tổ thứ nhất của phái Thiền Tôn
A Nan Đà, cũng gọi ngắn là A-nan (tượng có nét mặt trẻ hơn) là em họ Phật Thích Ca, ngài xuất gia theo Phật. Theo kinh sách, A-nan-đà là người rất nhẫn nhục, hết lòng phụng sự đức Phật, là Tôn giả nổi tiếng với trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy. Ngài được Ca diếp truyền y bát cho làm tổ thứ hai của phái Thiền Tôn.
Ngoài ra các chùa theo Phật Giáo Bắc Tông còn thờ bộ Tuyết Sơn Tam Thánh gồm có tượng Tuyết Sơn diễn tả Phật Thích Ca Mâu Ni trong thời kỳ tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn với thân hình gầy gò, chỉ có da bọc xương. Hai bên là hai vị tôn giả trợ thủ Ca Diếp và A Nan Đà.
Như vậy ở lớp thứ ba tùy theo tông phái mà có các bộ tượng khác nhau như Hoa Nghiêm Tam Thánh gồm Phật Thích Ca Mâu Ni, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi và Bồ Tát Phổ Hiền Bạch Tượng, hoặc thờ bộ Niêm Hoa Vi Tiếu: Phật thuyết pháp Linh Sơn, An Nan, Ca Diếp, hoặc bộ Tuyết Sơn Tam thánh.
.
D)-Tượng Cửu Long Thích Ca Sơ Sinh

Lớp thứ tư có pho tượng Cửu Long để giữa. Tượng này theo điển nói khi đức Thích Ca Mầu Ni mới giáng sinh, có chín con rồng xuống phun nước cho ngài tắm, đoạn ngài đi bẩy bước tay tả chỉ lên trời, tay hữu chỉ xuống đất mà nói rằng: “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn. Trên trời, dưới đất, chỉ có ta là quí hơn cả” Bởi vậy tượng Cửu-long làm chín con rồng vây bọc chung quanh và ở trên những đám mây có chư Phật chư thiên, nhã nhạc, cờ phướn và bát bộ Kim Cương, ở giưã có pho tượng nhỏ, đứng một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất, đó là tượng Bổn Sư Thích Ca Mầu Ni Phật lúc sơ sanh. (Ý nghĩa ngày Đản Sinh, tôi đã viết và phổ biến trong cuốn sách “Tôn Giáo và Dân Tộc”, cũng có trên Internet và một số báo). Bên tả tượng Cửu Long có tượng Đế Thích ngôi ngai, mặc áo đội mũ Hoàng Đế, bên hữu có tượng Đại Phạm Thiên cùng một kiểu như pho tượng Đế Thích, đó là theo điển nói hai vị Đại Thiên Vương này chủ-tế ở cõi sa-bà thế-giới và lúc nào cũng hộ trì Đưc Thích Ca khi ngài chưa thành Phật.
Như vậy ở lớp thứ tư thường thờ Tượng Cửu Long, Phật Đản Sinh, Đế Thích và Đại Phạm Thiên Vương.


.
Những chùa thường, ở trong điện thờ Phật, chỉ thờ có thế mà thôi. Còn những chùa rộng lớn thì bầy thêm hai lớp tượng nữa là:
.
E)- Tượng Tứ Thiên Vương.
Ở ngoài tượng Cửu Long để bốn pho tượng Tứ-Thiên-Vương mạc áo Vương phục, bày làm hai dẫy đối nhau, tức là bốn vị hộ thế.
.
F)-Tượng tứ Bồ Tát.
Có chùa bỏ tượng Tư-Thiên-Vương mà bày tượng bốn vị Bồ-Tát, tạc hình Thiên-thần gọi là Ái-Bồ-Tát, tay cầm cái tên; Sách Bồ-Tát, tay cầm cái cây; Ngũ Bồ-Tát, tay cầm cái lưỡi; Quyền Bồ-Tát tay nắm lại và để vào ngực.
Ngoài thờ Tứ Tượng Bồ Tát có một số chùa thay bằng hệ thống Thập điện Diêm Vương:
Bộ này gồm 10 tượng chia thành 2 hàng ở 2 bên nhìn vào chính điện. Gồm có: Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ/Ngọ Quan Vương, Diêm La Vương, Thái Sơn Vương, Biến Thành Vương, Bình Đẳng Vương, Đô Thị Vương, Chuyển Luân Vương.
.
G)- Tượng Bát-Bộ Kim-Cương.
Có nhiều chùa tạc 8 vị Kim-Cương, là thần tướng trên trời, thường gọi là Bát-bộ Kim-Cương gồm có :
1)-Thanh Trừ Tài Kim-Cương.
2)-Tích-Độc-Thần Kim-Cương.
3)-Hoàng-Tuỳ-Cầu Kim-Cương.
4)-Bạch-Tĩnh-Thủy Kim-Cương.
5)-Xích-Thanh-Hoả Kim-Cương.
6)-Định-Trừ-Tai Kim-Cương.
7)-Tử-Hiền Kim-Cương.
8)-Đại-Thần-Lực Kim-Cương.
Bốn vị Bồ-Tát và Tám vị Kim-Cương này, theo điển tích ở trong các kinh thi có nhiều thuyết khác nhau, xong đại ý là nói những bậc thần đã phát Bồ-Đề Tâm, đem thần lực mà hộ-trì Phật Pháp.
.
Ở một số chùa Miền Bắc còn thờ thêm những vị thần thánh, la hán, và các vị Tổ khác dưới đây:
.
H)- Ngọc Hoàng – Nam Tào – Bắc Đẩu:
Bộ tượng này vốn của Đạo giáo nhập vào Phật Giáo. Bộ tượng này được bổ sung vào chính điện trong khoảng thời gian thế kỷ 19-20, nhằm nói lên uy lực của Trời, tức Ngọc Hoàng Thượng Đế hay còn gọi là Hoàng Quân Giáo chủ, là đấng sáng tạo ra vũ trụ và thế giới nhân sinh. Trong tư cách này, Ngọc Hoàng như biểu hiện cho đấng sáng tạo với quyền năng tối thượng. Bên tay trái Ngọc Hoàng là tượng Nam Tào, vị thần giữ sổ sinh và xác nhận những điều tốt lành của chúng sinh. Bên tay phải Ngọc Hoàng là tượng Bắc Đẩu, vị thần giữ sổ tử và ghi chép những điều sai trái của chúng sinh.
.
I)- Quan Âm Thiên Thủ/Nam Hải
Ngoài việc được thờ cùng Phật A Di Đà và Bồ Tát Đại Thế Chí trong bộ tượng Di Đà Tam Tôn, Quan Thế Âm hay Bồ Tát Quan Âm cũng được đặt ở chính giữa Phật điện hoặc được thờ riêng, bàn thờ ấy thường được đặt phía trong bên trái bàn thờ chính.
Quan Thế Âm được người đời quan tâm nhiều bởi đặc tính cứu khổ cứu nạn. Dân gian thường gọi là Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn vì Ngài có thể hóa thành muôn nghìn thân thể để cứu vớt người trong muôn nghìn trường hợp. Quan Âm có nhiều tay nhiều mắt diễn tả khả năng vô biên của Người để nhận thức, cảm thông và cứu vớt chúng sinh.
Người ta thường tạc tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn với rất nhiều đôi tay, con mắt tỏa ra như vầng hào quang ở sau lưng. Nhưng cũng có nhiều nơi tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn được tạo hình rất đơn giản, chỉ như một tượng bồ tát ngồi bán kiết thông thường. Như vậy, chữ “thiên” trong “thiên thủ, thiên nhãn” ở đây có thể còn có nghĩa là “trời”. “Thiên nhãn” nghĩa là mắt trời, một trong ngũ nhãn của đạo Phật, là pháp lực huyền diệu của Quan Âm để có thể thấy mọi vật vạn, chúng sinh ở lục đạo luân hồi, thấy cả xa lẫn gần, cả to lẫn nhỏ, thấy cả trước mặt và sau lưng, cả trên và dưới, cả ban ngày và ban đêm, thấu suốt mọi nỗi đắng cay của chúng sinh mà dùng “thiên thủ” – tay trời tới cứu vớt. Khái niệm Thiên Thủ Thiên Nhãn có lẽ nói lên một biểu hiện và sức mạnh “vũ trụ” hơn là về số lượng.
Quan Âm Nam Hải cũng chỉ là một dạng Quan Âm nhiều tay hệ tượng Chuẩn Đề. Hình tượng này gắn với một trong những yêu cầu được đặt ra đối với tín ngưỡng Quan Âm trong buổi đầu khởi nguyên là cầu cho thuyền bè đi lại trên biển được bình an. Hình thái thờ Quan Âm Nam Hải ở nước ta(Quan Âm ở biển phương Nam) chỉ mới ra đời ở thế kỷ XVI. Tượng Quan Âm Nam Hải thường được tạo hình ngồi trên tòa sen nổi trên mặt biển. Tòa sen đó do quỷ hoặc rồng đội.
.
J)- Quan Âm Tọa Sơn:
Dạng tượng Quan Âm Tọa Sơn có lẽ chính là sự kết hợp của tín ngưỡng thờ Mẫu với Phật giáo. Trong điện Mẫu ở các chùa, ba Mẫu Thiên – Thoải (Thủy) – Thượng Ngàn thường được tạo hình giống nhau và được đặt ở vị trí ngang hàng nhau. Tuy nhiên ở nhiều nơi Mẫu Thượng Ngàn còn được tách ra thờ riêng trong Sơn Trang, được tạo hình là cả một cảnh rừng núi, hang động còn hoang sơ. Như thế Mẫu Thượng Ngàn theo đúng nghĩa là người Mẹ ngồi trên đỉnh núi. Khi tín ngưỡng thờ Mẫu thâm nhập vào ngay chính Phật điện thì Mẫu được Phật hóa thành Bồ Tát, cụ thể Mẫu Thượng Ngàn hóa thân thành Bồ Tát Quan Âm Tọa Sơn.
Loại tượng này có bế một đứa bé – tượng trưng cho chúng sinh đau khổ, nên còn được gọi là Quan Âm Tống Tử. Trong quá trình dân gian hóa hình thức này chuyển thành Quan Âm Thị Kính, cũng gọi là Mụ Thiện.
Tượng thường được tạc với hình tượng một người phụ nữ phúc hậu ngồi trong một hang động hoặc ngồi trên một mỏm núi, chân phải chống còn chân trái gấp nằm ngang, hai tay để trên đầu gối, chân đi đất, tay trái bế một đứa bé. Bên vai phải có thể có thêm một con vẹt hoặc chim khổng tước ngậm chuỗi hạt, đó chính là những hình ảnh này lấy từ tích chuyện về Quan Âm Thị Kính. Có thể có thêm hai tượng nhỏ Kim Đồng và Ngọc Nữ ở hai bên phía trước với dáng chầu hầu nhưng ngộ nghĩnh.
.
K)- Địa tạng vương Bồ Tát:
Là vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Địa ngục và trẻ con yểu tử, cũng được xem là người chuyên cứu giúp lữ hành phương xa. Đó là vị Bồ Tát duy nhất được diễn tả với bạch hào (lông trắng xoáy nằm giữa hai mắt) trên trán, một trong ba mươi hai tướng tốt của một vị Phật. Địa Tạng hay cầm ngọc Như ý và Tích trượng có sáu vòng, biểu hiện của sự cứu độ chúng sinh của Bồ Tát trong Lục đạo (sáu đường tái sinh).
Trong kinh Địa Tạng, có nói rằng: Hễ ai làm miếu, cất khánh, tô vẽ hình ngài Địa Tạng và cúng dường lễ bái ngài thì được mười điều lợi ích như: – Đất cát, nhà cửa bình yên, người thác được sinh lên cõi trời, người sống thêm tuổi thọ, cầu gì được nấy, tránh được tai nạn nước lửa và các điềm dữ, đi đâu đều có thần ủng hộ, gặp nhiều duyên lành, điều may mắn…
.
L)- Thổ Địa:
Thổ Địa hay còn gọi là Kiên Lao Đại Thần. Tượng hình một ông già tóc bạc râu dài, tay cầm cành trúc hay phất trần, mang chức năng bảo hộ Phật pháp.
.
M)- Kim Cương/Hộ Pháp Khuyến Thiện – Trừng Ác:
Hộ pháp là sự ủng hộ chính pháp của Phật và Bồ Tát. Phải có sự ủng hộ của các bậc có lực lượng lớn thì đạo mới không bị diệt. Lực lượng ấy, từ Phạm Thiên, Đế Thích, Bát bộ quỷ thần, đến các vua chúa… đều là người bảo hộ Phật Pháp và được gọi là Hộ Pháp. Các thần Hộ Pháp như Tứ Thiên Vương, Kiên Lao, Địa Kỳ… đều thề trước Phật quyết ra sức hộ trì Phật pháp.
Phổ biến nhất là hai dạng tượng Hộ Pháp:
1. Bát bộ Kim Cương xuất hiện từ thời Lý – Trần gồm: Thanh Trừ Tai Kim Cương; Tích Độc Thần Kim Cương, Hoàng Tùy Cầu Kim Cương; Bạch Tịnh Thủy Kim Cương; Xích Thanh Hỏa Kim Cương; Định Trừ Tai Kim Cương; Tử Hiền Thần Kim Cương; Đại Thần Lực Kim Cương. Cả tám vị đều được tạo hình là võ tướng, đứng trên mây, kích thước tương đương nhau, với chức năng hộ Pháp, các vị Kim Cương đều mang theo vũ khí, song từ màu da và khuôn mặt, sự phối kết cơ bắp toàn thân đã biểu hiện rõ hai tính chất đến trái ngược nhau là trừng ác và khuyến thiện. Tượng Kim Cương có thể được chia ra từng cặp đứng ở bốn cửa tháp Phật. Hoặc chia ra đứng ở 2 bên tiền đường.
2. Hộ Pháp Khuyến Thiện và Hộ Pháp Trừng Ác: xuất hiện thành bộ đôi tượng Hộ Pháp chính thức từ thời Nguyễn, là hai pho tượng rất lớn, có ở hầu hết các chùa. Hai pho này có thể đứng hoặc ngồi trên lưng sư tử, nhưng đều cao to, đầu gần chạm mái nhà. Hộ Pháp Trừng ác mặt đỏ gay, tay lăm lăm vũ khí, còn Hộ Pháp Khuyến Thiện mặt trắng, tay cầm viên ngọc. Tượng Khuyến Thiện ở bên trái, Trừng Ác ở bên phải với nguyên tắc “Tả trọng hữu khinh” (bên trái trọng hơn bên phải). Tượng Hộ Pháp thời này đều đắp bằng đất luyện, trang trí rườm rà và vụn, sơn quét nhiều màu. Điều này phổ biến trong khắp mọi chùa.
.
N)- Đức Ông:
Lấy điển tích về cùng xuất hiện đồng thời chứng minh khi Đức Thích-ca vừa thành đạo. Trưởng giả Cấp-cô-độc, một nhân vật thời Thích-ca tại thế, đã mua một khu vườn cây xây tịnh xá, ngôi chùa rất to lớn đầu tiên trên thế giới, thỉnh Phật Thích-ca về thuyết pháp. Sau này ông được coi là người bảo vệ tài sản của nhà chùa. Vì vậy người ta gọi là Đức Ông
Tượng có hình dáng quan văn, đội mũ cánh chuồn, mặt đỏ, râu dài và đen, mắt sắc, vẻ mặt nghiêm nghị, tay phải cầm bút, tay trái cầm sổ ghi chép các công việc xẩy ra ở chùa và các công đức thành tâm của tất cả ai đến lễ Phật tại chùa. Vì vậy khi vào chùa lễ Phật, đầu tiên là phải làm lễ trước ban thờ Đức Ông để kính cáo, sau đó mời ra chính giữa Phật điện để lễ Phật.
Đức Ông có thể có hai thị giả là Già Lam và Chân Tể đi kèm. Tượng hai vị này cũng được tạo hình là quan văn đứng hoặc ngồi hai bên Đức Ông. Một vị tay cầm bút, một vị tay cầm sổ sách, cũng có chùa một vị là quan văn tay cầm sổ sách còn vị kia là một võ tướng tay cầm binh khí.
.
O)- Thánh Tăng:
Hay còn gọi là Đức Thánh Hiền. Tượng được tạo hình là một vị tăng đầu đội mũ tỳ lư thất phật, vành mũ là 7 cánh sen, mỗi cánh sen có hình một đức Phật, tay cầm chén, tay bắt ấn. Tượng chính là hình ảnh ngài A Nan Đà tôn giả vâng theo lời Phật làm nhiệm vụ truyền bá đạo Phật, phân phát cơm cháo… cho các chúng sinh bị đói khát.
Thánh Tăng cũng có hai trợ thủ là Diệu Nhiên và Đại Sĩ, thường được đặt trong tư thế đứng hầu: một pho với khuôn mặt mầu xanh dữ tợn, còn một pho hình dáng nhân từ hiền hậu.
.
P)- Tổ truyền đăng/ Thập Bát La Hán:
– Tổ truyền đăng:
Theo lịch sử Phật giáo thì sau khi đức Phật Thích Ca Mầu Ni tịch diệt, ngọn đèn Phật giáo ở Tây Thổ (Ấn Độ) được 28 vị Tổ kế tiếp nhau truyền thừa thắp sáng. Đến tổ 28 của Phật giáo Tây thổ là Bồ Đề Đạt Ma đã truyền sang Trung Quốc và trở thành sơ tổ của dòng Đông Độ, phát triển đến Tổ thứ 6 là Huệ Năng đại sư thì chia ra các thiền phái. Như vậy tất cả có 33 vị Tổ chung được gọi là Tổ Kế Đăng (hay Tổ Truyền Đăng).
Bộ tượng này thường đặt ở hai dãy hành lang hoặc nhà hậu. Các tượng này được chọn trong 28 vị tổ đầu tiên ghi trong sách Thiền Uyển kế đăng lục. Ý nghĩa của các tượng này là: các vị tổ có nhiều nguồn gốc, thành phần xuất thân khác nhau, nói lên tính hòa đồng không phân biệt đẳng cấp của nhà Phật. Mặt khác những thành tích gắn với các tổ liên quan tới bước phát triển của Phật giáo từ hệ thống Tiểu thừa chuyển dần sang Đại thừa, từ không gian hẹp phát triển ra khắp nơi… Thường là lấy 18 vị trong số 20 vị Tổ đầu của Tây thổ nhưng bỏ Tổ 11 và Tổ 15. Đó là các vị Tôn Giả: Ma Ha Ca Diếp, A Nan Đà, Thương Na Hòa Tu, Ưu Ba Cúc Đa, Đề Đa Ca, Di Giá Ca, Bà Tu Mật, Phật Đà Nan Đề, Phục Đà Mật Đa, Hiệp, Mã Minh, Ca Tỳ Ma La, Long Thụ, La Hầu La Đa, Tăng Già Nan Đề, Già Da Xá Đa, Cưu Ma La Đa, Xà Dạ Đa. Vì con số 18 này mà người ta thường nhầm các vị Tổ Truyền Đăng là 18 vị La Hán như ỏ chùa Tây Phương rất nổi tiếng ở Hà Tây. Song tượng Tổ Truyền Đăng thường là những tác phẩm điêu khắc bám sát cá tính nhân vật, điển hình hóa, tổng hòa những nét cá biệt để nêu bật cái thực và cái thần của mỗi vị tổ, chứ không nhang nhác giống nhau như tượng La Hán.
– Thập bát La Hán:
Theo sách Pháp trụ ký thì đức Phật chỉ định 16 vị La Hán sống mãi ở cõi đời này để tế độ chúng sinh. Đó là các vị Tôn Giả: Tân Độ La Bạt La Nọa Xà, Ca Nhạ Ca Phạt Ta, Ca Nhạ Ca Bạt Ly Noa Xà, Tô Tần Đà, Nhạ Cư La, Bạt Đà La, Ca Lý Ca, Phạt Xà La Phất Đà La, Thú Bác Ca, Ban Thác Ca, La Hỗ La, Nà Già Tê Na, Nhân Yết Đà, Phạt Na Bà Tư, A Thị Đa, Chú Đồ Bán Thác Ca. Về sau, có người thêm hai vị Tôn Giả nữa để thành 18, hoặc là Khánh Hữu và Tân Đầu Lư, hoặc là Ca Diếp và Quân Đồ Bát Thán. Bộ tượng này cũng thường được đặt ở hai dãy hành lang trong chùa.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0908.867.888