Đền Mẫu Đông Cuông Một Trong Những Ngôi Đền Thiêng , Đẹp Và Hoành Tráng Tại Miền Bắc .

Đền Đông Cuông (Thôn Bến Đền, xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái) — tại Đền Mẫu Đông Cuông.

Đền Đông Cuông sơ khởi là Miếu thờ Đông Quang công chúa do các dòng họ Hà, Hoàng là người Tày Khao sáng lập và thay nhau đảm lãnh công vụ chính quyền, đồng thời là nơi làm việc của Thổ Tù, chức dịch, phiên quan và đảm chức năng “Đinh Trạm” chuyển tống đạt công văn thử chỉ hai chiều giữa triều đình trung ương và cơ sở. Thời Trần tổng dinh Quy Hóa Hà Bổng và thộc viên của ông Từ (Ngọc Tháp – Quang Sơn) lên trấn giữ biên ải. Hiện nay, trước là Đình, nay là Đền dòng họ Hà quán xuyến bởi tổ phụ của dòng họ Hà là Hà Văn đã từng lãnh đạo địa phương đánh giặc Nguyên – Mông thời Trần.
Theo dân tộc Tày Khao gọi là đình Đông Cuông với chức năng thờ Mẫu và vị Đại Vương, người Tày cho là Thành hoàng làng là chính, không kiêm nhiệm nhiều chức năng khác và không tập trung thể hiện mỹ thuật. Trang hoàng lộng lẫy, mà chỉ là những vân mây, sóng nước, điểm xuyến đôi hình hoa lá hoa dây. Đền Đuông Cuông có kết cấu hình chữ đinh gồm hai tòa đại bái và hậu cung cấm.


Đền tuy tọa ở nơi heo hút, nhưng ấm hơi người. Các triều đại đều phong tặng sắc quý cho Đông Cuông những ơn sâu, nghĩa cả, ý đẹp điều lành để cứu độ toàn dân, nên đã xuất hiện khá sớm Đền Thần Vệ Quốc và cần nguồn của cải vô biên nên đã thêm cả Mẫ. Một ngôi đền thiêng để thiên cổ trường tồn ngàn năm bất hủ, mang lại tiếng thơm ấy là sức đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh phi thường được nên thành Thần Vệ Quốc là vậy. Đền tọa ở nơi địa thế đẹp, khí tốt tụ về bãi bồi vạn niên của xứ Hưng Hóa khi xưa, cũng bắt đầu từ ngôi đền thiêng ấy mà tả hữu hai bên mạch đất đều có thần ngự, thường xuyên có khí tốt đón gió lành thổi đến, vì thế Đền Thần Vệ Quốc nơi đây hông đâu sánh được.


Tòa hậu cung cấm:

Gồm một gian trên thượng cung cấp sàn cách mặt nền 1,80m là nơi đặt hai pho tượng, tượng Mẫu và tượng cao quan Đại Vương người Tày Khao ở đây gọi là Quang Hoàng Báo được nối liền với gian giữa của tòa đại bái có tổng diện tích 42m2 dựng kiểu mái xiên đổ xi măng lợp ngói mũi hài Hương Canh – chịu lực ở tường.

Tóm lại: Qua bố trí kết cấu khung và ở tòa cung cấm là dạng đình ở trên mang dáng dấp kiến trúc của thời Nguyễn với lối sử dụng cổ truyền có hiệu quả. Đây là nét điển hình nghệ thuật kiến trúc cổ dân gian mà tới hôm nay dù xây dựng có công nghệ kỹ thuật hiện đại song vẫn ứng dụng kiểu hệ thống cổ truyền này, chỉ có điều biến dạng vị trí đi với một tên gọi khác “con sơn” mà ta thường bắt gặp.
Tòa hậu cung cấm:

Do sự biến thiên của lịch sử, ngôi đền cổ xưa không còn nguyên vẹn về nhân vật thờ cúng như hình thức.

Tòa hậu cung còn bảo lưu hai pho tượng đồng cỡ lớn, một pho tượng mẫu, một pho là quan Hoàng Báo. Tuy mỗi pho tượng có một sự tích kích cỡ khác nhau. Song đều được tạo dáng hài hòa (đường sơn viết thiếp bên ngoài ăn nhập với nội dung bên trong của từng pho tượng bài trí theo thể thức nam tả – nữ hữu).

Nói đến Mẫu chúng ra tự hiểu giản đơn là người mẹ, song là người mẹ của vũ trụ, của toàn thể nhân loại, là tối thượng thần chi phối đến tư duy của toàn thể nhân loại. Trong đó có người Việt nói chung và người Tày Khao nói riêng, Mẫu là một lực lượng siêu đẳng là hiện thân của một sự kính trọng, là nguồn của cải vô biên, là linh hồn của vũ trụ, từ mẹ mà muôn vật nảy sinh – muôn loài tồn tại.

Việc thờ Mẫu bên cạnh Thần ở Đền Đông Cuông dễ được chấp nhận (bất chấp cả sự hóa thân).

a) Tượng Mẫu

Mình cao 0,75 m đầu đội mũ nhài dát vàng mặt nguyệt, môi son, dải mũ chùm tận chấm vai, tai to chảy, mình khoác áo vàng hoặc xanh hoặc đỏ (theo tứ mùa) cổ cao 3 ngấn, đeo vòng hạt, tay đặt nhẹ lên đùi (một tay úp một tay ngửa quay vào hướng bụng, miếng thoáng mỉm cười phúc hậu).

Ngai đặt tượng Mẫu: Tượng Mẫu được đặt trên một ngai rộng 0.88 m, dài 1m gồm 3 tầng.

* Phần bệ ngai:

Ở chính chạm nổi hổ phù, miệng càm chữ Thọ, có hai mắt sáng, sừng và tai dô ra, được trang trí rồng lượn vân may xoắn, chạm bong thủng hình rồng, có vây uốn lượn, chân cuộn đao thẳng vút lên, đầu có bờm tóc hắt ngược về phía sau:

* Phần thân ngai:

Chính giữa chạm nổi hình rồng, lưng cõng chữ Thọ, đầu ngoảnh về phía sau, bốn chân ở thế phi nhanh, phía trên có trạm nổi hình hổ phù, miệng há rộng, trắn ngắn, đuôi ngheo, sừng nai, tai thú, trán kiểu lạc đà, chầu hai bên hổ phù là rồng đang vờn trong những áng mây.

* Phần tay ngai:

Tứ thân ngai vươn ra tới đầu rồng dài 0.60m, đầu rồng vươn ra xa, miệng há rộng ngậm viên ngọc quý, đôi mắt lồi đen trắng dữ tợn, hai bên thành ngai có 6 con tiện thắt tròn trạm nổi hình rồng bay lên, toàn thân sơn son thiếp vàng.

Trên đây là lô ngai khá đẹp, trạm trổ tinh vi, trau chuốt tạo vẻ chắc chắn nhưng duyên dáng, thanh thoát.

b) Tượng quan Hoàng Báo

Pho tượng cao 0,75 m (bài trí nam tả nữ hữu trong cung cấm) toàn ngai trạm trổ tương tự ngai tọa của Mẫu có phần nhỏ hơn một chút về số đo, hai bên được bố trí hai thanh kiếm vỏ trạm nổi rồng. Tượng mình khoác áo vàng (khi mở hội) ngày thường mặc áo chàm xanh; trang trí trên lụa hình chữ Thọ vân mây trên dải lụa, tư thế ngồi thiền, đầu tọa khăn xếp, lúc thì đội mũ cánh chuồn (khi mở hội), hai tai to chảy, hai tay đặt nhẹ lên đùi, một tay úp, một tay ngửa chỉ về hướng bụng, miệng hơi mỉm cười nhân từ phúc hậu. Tượng được tạo dáng nhân từ đôn hậu, song cũng toát lên dáng hình cương trực hiển ứng linh thiêng của vị quan Hoàng báo nơi đất phên dậu mà người đời vẫn truyền tụng rằng:

Đằng trước có án lư hương
Đằng sau lại có hai rồng vắt ngang
Hai thanh đoản kiếm rõ ràng
Đất vàng văn
Tòa Đại Bái:

* Không gian tòa Tiền đường được bố trí 4 ban phủ tòa thờ:

– Tòa ngũ vị Tiên Ông
– Ban Trần triều
– Phủ Sơn trang
– Tòa công đồng chúa

* Bộ bát bửu (8 vật quý gồm):

– Quả cầu to
– Cái bút
– Cái quạt hình quả vả
– Ống sáo
– Giỏ hoa
– Thanh kiếm
– Cái phất trần
– Bàn cờ

Những thứ quý trên đây gắn với quan niệm nho học – lãng hoa biểu hiện hạnh phúc; ống sáo, quạt quả vả biểu hiện phong lưu, hòm sắc bút lông biểu hiện học thức, phất trần dũng khí – đạo đức, mỗi thứ bát bửu được tạo mảng, trạm bong, nổi, thủng, đẹp. Về điêu khắc tốt bền về chất liệu đặt trên một cán dài, sơn son thiếp vàng, cắm vào hai cái giá đặt hai bên, trước ban thờ ngũ vị Tiên Ông.

Ban thờ ngũ vị tiên ông

Lịch sử cho hay: Tại tổng Đông Cuông có 114 nghĩa quân tham gia vào cuộc khởi nghĩa năm Giáp Dần (1913-1914) trong đó có 5 vị thủ lĩnh người Tày Khao đã lập được chiến công trong hai năm, chống thực dân Pháp xâm lược. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại (do tự phát – non trẻ) và ít nhiều mang màu sắc mêm tín vài thủ lĩnh đa số là thầy mo. Song một mặt giải tỏa được chính sách chia rẽ hiềm khích lẫn nhau trong cộng đồng người dân tộc và tạo nên sự đoàn kết chống kẻ thù chung, một lòng yêu quê hương nương rẫy ruộng vườn. Nhân dân người Tày Khao nơi đây trân trọng sự hy sinh ấy, 5 vị có nhiều công trạng đã tôn thành Ngũ Vị Tiên Ông và tạc tượng tôn thờ, đặt trong đền và coi đền là đình của họ (đình Đông Cuông). Giáo sư Trần Lâm Biền và Trần Quốc Vượng cũng gọi như vậy, và đặt cùng đền với quan Thống Chế Đại vương. Đến Đông Cuông cũng gọi là đình của người Tày Khao và thờ cả Ngũ Vị Tiên Ông của người Tày.

Tượng 5 vị Tiên Ông cao 0,62 m đều nhau, đầu đọi mũ cánh chuồn, sơn son dát vàng, tai to, mặt đỏ, râu dài, diện mạo oai linh, dáng hình võ tướng, hai tay năm vị ở tư thế khác nhau, tượng ngồi, áo tạc liền tượng, chân đi giày cong, tượng được tạo dáng như khi xưa, đương suy nghĩ thảo bàn cách lược binh sự, cũng như chọn đường đẻ điều khiển nghĩa quân phá thế giặc cường.

* Tóm lại:

Tượng ngũ vị Tiên Ông được thể hiện khá trọn vẹn chân dung các vị thủ lĩnh dũng cảm, đó chính là hình ảnh thu nhỏ về cuộc khởi nghĩa Dao – Tày trong hai năm trước khi Đảng ra đời, đó chính là cơ sở tinh thần đoàn kết tham gia cách mạng, giải phóng quê hương sau này mà sử sách còn lưu truyền là thế.
Ban Trần triều (thờ vọng)
Với sự ngưỡng mộ, để tỏ lòng biết ơn vị tướng Trần Hưng Đạo có công trạng và tài thao lược trận mạc đã nhập tượng về thờ tại đền, tượng Trần Hưng Đạo khá to uy nghi, khuôn mặt phúc hậu song cũng toát lên vị tướng tài ba thao lược. Tượng cao 0,90 m, đầu đội mũ cánh chuồn, sơn đỏ thiếp vàng, khoác áo vàng chân đi hài cong tả hữu hai bên là hai công chúa ngồi chầu (là hai người con gái của Hưng Đạo Vương và cũng được tạc tượng khá đẹp).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0908.867.888